Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Cài đặt OpenCV trên Visual Studio 2010 – Windows 7 (x86-x64)

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

OpenCV là thư viện mã nguồn mở về Computer Vision do Intel thiết kế, cung cấp các hàm, lớp ứng dụng các thuật toán về xử lý ảnh với ngôn ngữ C/C++.

Để cài đặt và sử dụng OpenCV (phiên bản hiện nay là OpenCV 2.1.0) với Visual Studio 2010 (trên Windows 7 x86_x64), cần phải download các phần sau:

1. OpenCV: thư viện OpenCV 2.1.0. Download file cài đặt tại đây .

2. CMake: phiên bản OpenCV 2.x chỉ cung cấp mã nguồn chứ không tích hợp tập thực thi và cấu hình dự án cho từng mội trường phát triển. Vì thế ta sử dụng CMake để tạo, cấu hình dự án cho phù hợp với môi trường phát triển, cụ thể ở đây là tạo project để build file .dll và .lib để sử dụng OpenCV trong Visual Studio 2010 trên Windows x64. Download file cài đặt tại đây.

Các bước cài đặt OpenCV:

1. Chạy file OpenCV-2.1.0-win32-vs2008.exe để cài đặt OpenCV. Lưu ý khi cài đặt lựa chọn: Add OpenCV to the system PATH. Đường dẫn mặc định của chương trình là: C:\OpenCV2.1

OpenCV Setup

2. Cài đặt CMake.

3. Tiếp theo, ta sẽ sử dụng CMake tạo project để build file thư viện OpenCV phù hợp với Visual Studio 2010. Vào C:\OpenCV2.1, tạo thư mục build để chứa project.

Configure CMake

4. Click nút Configure để lựa chọn môi trường phát triển, ở đây lựa chọn Visual Studio 10 Win64. Click Finish.

Configure CMake for Visual Studio 2010 win64

5. Nhấn chọn tiếp nút Configure lần nữa, sau đó nhấn nút Generate để hoàn tất việc tạo project:

Configure CMake for Visual Studio 2010 win64

6. Vào C:\OpenCV2.1\build, mở file OpenCV.sln vừa tạo:

OpenCVBuild project

7. Khi biên dịch file .dll và .lib cho OpenCV, nên lưu ý chế độ của project là debug hay release. Riêng trong trường hợp này, biên dịch để sử dụng trong Visual Studio 2010 trên Windows 7 x64, để tránh xảy ra lỗi : the application was unable to start correctly 0xc0150002 về sau, nên để chế độ là release.

Release Mode VS 2010

8. Biên dịch chương trình, sau khi biên dịch, ta sẽ có các file OpenCV dll trong C:\OpenCV2.1\build\bin\Release và OpenCV lib trong C:\OpenCV2.1\build\lib\Release. Ngoài ra, các tập tin header .h nằm ở địa chỉ: C:\OpenCV2.1\include\opencv

Build OpenCV with VS2010

9. Tiếp theo, ta sẽ tạo thử một project chạy thử sử dụng thư viện vừa biên dịch trên. Tạo mới Project, đặt tên là OpenCV Demo:

New Project VS2010

10. Cấu hình Visual Studio 2010 để reference các đường dẫn đến các file .h, .dll, .lib. Với phiên bản cũ hơn, chẳng hạn như Visual Studio 2008, khi cấu hình sẽ vào Tools-> Options-> VC++ Directories để cấu hình cho tất cả các project, tuy nhiên, ở Visual Studio 2010 thì chỉ cho phép cấu hình riêng với từng project. Click chuột phải vào project, chọn Properties:

Project Properties - VS 2010

11. Cấu hình VC++ Directories:

  • Include Directories... add: 'C:\OpenCV2.1\include\opencv;'
  • Library Directories:
        • Debug Builds.. add: 'C:\OpenCV2.1\build\lib\Debug’, ‘C:\OpenCV2.1\build\bin\Debug’
    • Release Builds.. add: 'C:\OpenCV2.1\build\lib\Release’, ‘C:\OpenCV2.1\build\bin\Release’
  • Source Directories... add: 'C:\OpenCV2.1\src\cv; C:\OpenCV2.1\src\cvaux; C:\OpenCV2.1\src\cxcore; C:\OpenCV2.1\src\highgui; C:\OpenCV2.1\src\ml;'
  • Linker -> Input -> Additional Dependencies...

    • Debug Builds.. add: 'cv210d.lib; cxcore210d.lib; highgui210d.lib;'
    • Release Builds.. add: 'cv210.lib; cxcore210.lib; highgui210.lib;'

    Configure VC++ Directories - VS2010

    Configure VC++ Directories for OpenCV - VS2010

    Configure VC++ Directories for OpenCV - VS2010

    12. Nội dung file OpenCVDemo.cpp:

    #include "stdafx.h"

    #include <cv.h>
    #include <cxcore.h>
    #include <highgui.h>

    int _tmain(int argc, _TCHAR* argv[])
    {
        IplImage *img = cvLoadImage("test.jpg");
            cvNamedWindow("Image:",1);
            cvShowImage("Image:",img);

            cvWaitKey();
            cvDestroyWindow("Image:");
            cvReleaseImage(&img);

            return 0;

    }

    13. Copy file test.jpg vào C:\Users\USERNAME\Documents\Visual Studio 2010\Projects\OpenCVDemo\OpenCVDemo để chạy thử chương trình. Biên dịch chương trình ta được kết quả:

    OpenCV Demo

  • Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

    Qwiki – công cụ tìm kiếm tương lai?

    Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

    Gõ tên từ khóa, nhấn nút tìm kiếm, và kết quả hiện ra là một video trình bày thông tin, hình ảnh với giọng nữ thuyết minh như vẫn thường gặp trong các phim khoa học giả tưởng. Đó là một trải nghiệm thú vị với Qwiki – công cụ tìm kiếm “có thể nói chuyện”

    Qwiki tóm tắt text và thông tin từ Wikipedia và các nguồn khác để trình bày thông tin về từ khóa cần tìm kiếm một cách trực quan và sinh động. Các nhà phát triển nhấn mạnh rằng Qwiki không phải là một search engine, mà là một platform có thể được phát triển sử dụng vào các ngữ cảnh khác nhau. Hiện thời Qkiwi là ứng dụng để trình bày trải nghiệm thông tin với các loại nội dung, tương lai nó sẽ được phát triển hơn nữa, chẳng hạn như ở buổi demo Qwiki, nó còn được trình diễn dạng báo thức, nhắc nhở trên điện thoại bằng giọng nói.

    Qwiki hiện đang ở phiên bản thử nghiệm alpha, để sử dụng cần phải đăng kí tài khoản. Link: http://www.qwiki.com

    Qwiki AlphaQwiki

    Thử với từ khóa là “Thủ Đức” để tìm thông tin về quận Thủ Đức chẳng hạn, đây là kết quả từ với từ khóa này.

    Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

    WPF & Multipoint Seminar at Hoa Sen University

    Thứ Ba, 25 tháng 5, 2010

    poster WPF & Multipoint

     

    Hội thảo công nghệ WPF & Multipoint đã diễn ra vào sáng ngày thứ bảy 22/05/2010 tại phòng Cs2_F301 trường ĐH Hoa Sen với sự tham gia của hơn 50 bạn sinh viên của trường.

    Buổi seminar được tổ chức bởi các MSP Hoa Sen (Live Club Hoa Sen) và các MSP ĐH CNTT, với các nội dung về:

          • Giới thiệu tổng quan về Windows Presentation Foundation (WPF) – WPF 4.0
          • Expression Blend 4 với WPF 4.0
          • Multipoint Mouse SDK

    Với các presenter là các MSP trường ĐH CNTT: Nguyễn Bảo Duy, Trần Thị Thanh Hương, Trần Phước Việt và MSP Lê Dương Công Phúc – trường ĐH Hoa Sen.

     

    MSP Nguyen Bao Duy -DH CNTTSinh vien DH Hoa SenMSP Le Duong Cong Phuc - DH Hoa SenMSP Tran Thi Thanh Huong - DH CNTT SV DH Hoa Sen 1SV DH Hoa Sen 2MSP Tran Phuoc Viet - DH CNTT MSP DH Hoa Sen & MSP DH CNTT

    Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

    Skinput: Appropriating the Body as an Input Surface

    Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

    So amazing and interesting technology! :)

    “We present Skinput, a technology that appropriates the human body for acoustic transmission, allowing the skin to be used as a finger input surface. In particular, we resolve the location of finger taps on the arm and hand by analyzing mechanical vibrations that propagate through the body. We collect these signals using a novel array of sensors worn as an armband. This approach provides an always-available, naturally-portable, and on-body interactive surface. To illustrate the potential of our approach, we developed several proof-of-concept applications on top of our sensing and classification system.
    Published at ACM CHI 2010.”

    http://www.chrisharrison.net/projects/skinput/

    Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

    Note about Microsoft Dynamics CRM

    Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

    Tò mò về Microsoft Dynamics CRM, do mình chưa bao giờ xem về mảng này nên note lại một số khái niệm để sau này không quên :). Note này viết theo những gì mình hiểu, nên có điều gì không chính xác mọi người góp ý giúp để mình sửa và hiểu đúng hơn :D

    ----------------------------------------------------------------------------------

    • CRM:

    What? : CRM (Customer Relationship Management) là chiến lược kinh doanh nhằm giảm thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận thông qua việc quản lý, củng cố mối quan hệ với khách hàng.

    Why? : việc đánh giá giá trị khách hàng (customer value) theo doanh số chưa đầy đủ, cũng như mức độ hài lòng, sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp còn thiếu nhiều thông tin. Trong khi những điều này góp phần quan trọng cho biết nhu cầu của khách hàng hiện  nay là gì, và tiềm năng tương lai như thế nào, nên tập trung hay lướt qua những đối tượng khách hàng nào => cần có CRM cung cấp cái nhìn tổng quan về trải nghiệm của khách hàng.

    How?: ba nhân tố chính cần quan tâm để khởi đầu chiến lược CRM thành công là: process ( quy trình – VD: chuẩn hoá quy trình?… ), people (con người – VD: nhân viên có nhận thức được tầm quan trọng của CRM?…) và technology (công nghệ). Riêng về technology thì hiện giờ mình quan tâm tới Microsoft Dynamics CRM.

    • Microsoft Dynamics CRM:

    Microsoft Dynamics CRM (MSCRM) cung cấp công cụ cần thiết để tổ chức doanh nghiệp đạt được mục tiêu chiến lược CRM, nằm trong bộ sản phẩm Microsoft Dynamics.

    Những hỗ trợ mà MSCRM giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn là:

    • Quản trị mối quan hệ khách hàng đa dạng với Microsoft Office quen thuộc.
    • Thiết kế linh hoạt và nhất quán các quy trình trong thực tiễn kinh doanh.
    • Triển khai, tùy chỉnh và quản lý thuận tiện, dễ dàng.

    Về mặt kĩ thuật, Microsoft Dynamics CRM là một ứng dụng data-driven client-server, hay nói sâu hơn là ứng dụng ASP.NET chạy trên Internet Information Services (IIS) application server. Sơ lược hệ thống gồm có 3 lớp:

    Microsoft Dynamics CRM 3 Tiers

    Trong phiên bản Microsoft Dynamics CRM 4.0, các lựa chọn Microsoft Dynamics CRM Server gồm 3 loại: On-Premise (CRM server được cài đặt trên server (phần cứng) của doanh nghiệp, client kết nối thông qua VPN, Internet); Service Provider/Partner Hosted (cài đặt trên server của các nhà cung cấp - third party và client kết nối qua Internet); Microsoft Dynamics CRM Online (tương tự như Service Provider chỉ khác nhà cung cấp là Microsoft).

    Microsoft Dynamics CRM Server Options

    Về Microsoft Dynamics CRM Client, cũng có 3 dạng truy cập dữ liệu là thông qua: Web browser; Microsoft Dynamics CRM với Outlook kết nối liên tục và Microsoft Dynamics CRM với Outlook hỗ trợ sử dụng offline.

    Microsoft Dynamics CRM được tổ chức theo các module chính, mỗi module chia sẻ chung cơ sở dữ liệu nhưng cung cấp những chức năng khác nhau:

    • Sales: quản lý quy trình bán hàng và các cơ hội khác (tuyển dụng, huy động vốn…)
    • Marketing: quản lý marketing và các quy trình giao tiếp khác.
    • Customer service: quản lý các dịch vụ. Module này bao gồm thành phần Service Scheduling cho phép phân phối khách hàng theo thời gian phù hợp với nguồn tài nguyên hiện thời (VD như nhân lực cho một dịch vụ …)

    Microsoft Dynamics CRM Modules

    Microsoft Dynamics CRM 4.0

    Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

    Prezi – The zooming presentation editor

    Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009
    Just a little new thing I got when I attended BarCamp Saigon 2009. Prezi is a online presentation tool. It’s fancy, but maybe you need spend more time on learning how to use it.



    Link : http://prezi.com/

    Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

    XAML

    Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

    XAML là gì?

    • XAML (viết tắt của cụm từ Extensible Application Markup Language, phát âm là "zammel") là một ngôn ngữ đánh dấu được sử dụng để tạo ra các đối tượng trong .NET.
    • Ta có thể tạo ra các phần tử đồ họa (UI) với những khai báo thông qua thẻ trong XAML. Sau đó ta có thể dùng file mã lệnh tách biệt của nó (code-behind) để trả về những sự kiện và điều khiển những đối tượng mà ta đã định nghĩa trong XAML.
    • Mặc dù XAML là một công nghệ có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng vai trò chính của nó là để xây dựng giao diện trong các ứng dụng WPF. Nói cách khác, XAML định nghĩa sự sắp xếp các Panel, Button, Label,… để tạo nên một window trong các ứng dụng WPF. Giống như HTML, có khá nhiều công cụ hỗ trợ việc viết XAML một cách trực quan.Để xây dựng các ứng dụng có yêu cầu cao về giao diện thì phương pháp hiệu quả nhất là tách riêng phần thiết kế giao diện và phần viết code cho ứng dụng. Với phương pháp này, Designer và Developer có thể làm việc song song và khi hoàn thành sẽ tích hợp lại với nhau.
    • Trước khi WPF xuất hiện thì việc tách biệt giao diện ra khỏi code là vô cùng khó khăn. Điều này rất dễ hiểu vì với Windows Form, mọi thứ bạn tạo ra đều được định nghĩa trong code C#, VB.NET,… trong khi Designer lại thường không có kiến thức về các ngôn ngữ lập trình phức tạp này. Rất may, mọi thứ đã thay đổi khi WPF xuất hiện. Với WPF, Designer và Developer có thể làm việc hoàn toàn độc lập. Chìa khóa cho sự cộng tác giữa Designer và Developer trong các ứng dụng WPF chính là XAML.

    Tại sao lại sử dụng XAML – một dạng ngôn ngữ đánh dấu?

    1. Trước XAML đã có một số ngôn ngữ đánh dấu dùng để thể hiện giao diện như: HTML, XUL, SVG, WordML,… Những ngôn ngữ này đặc biệt là HTML thể hiện việc dùng ngôn ngữ đánh dấu để xây dựng giao diện là rất hợp lý. XML có cái tên khá giống XAML nhưng lại là một ngôn ngữ đánh dấu để thể hiện dữ liệu có cấu trúc.Điểm cốt yếu cho thành công của các ngôn ngữ đánh dấu là máy tính có thể đọc được và cũng rất dễ hiểu với con người. Các ngôn ngữ đánh dấu dễ học hơn ngôn ngữ hướng đối tượng hay hướng thủ tục rất nhiều. Ngoài ra, các công cụ soạn thảo trực quan cho các ngôn ngữ đánh dấu rất quen thuộc với các Designer.XAML cũng là một ngôn ngữ đánh dấu nên nó thừa hưởng tất cả những điểm mạnh trên.
    2. Ngoài ra,thêm một điều đáng chú ý là mọi thứ có thể biểu diễn bằng XAML thì cũng có thể biểu diễn bằng code C#. Ví dụ: <Button Background="Red">No</Button>

      Mỗi phần tử XAML lại tương ứng với một lớp WPF, và mỗi thuộc tính của phần tử đó lại tương ứng với thuộc tính hay sự kiện của lớp này. Chẳng hạn, nút bấm màu đỏ trong ví dụ trên có thể tạo bằng C# code như sau: var btn = new Button(); btn.Background = Brushes.Red; btn.Content = "No"; Vậy câu hỏi đặt ra là XAML có ý nghĩa gì ? Câu trả lời là việc xây dựng các công cụ sinh và sử dụng các đặc tả bằng XAML dễ dàng hơn nhiều so với xây dựng một công cụ tương tự làm việc với đoạn mã. Điều đó giải thích vì sao có sự ra đời của bộ công cụ Microsoft Expression Studio, bộ công cụ hỗ trợ trong việc thiết kế giao diện xây dựng trên nền tảng XAML. Expression Studio kết hợp cùng với Microsoft Visual Studio hỗ trợ phần code-behind của XAML để xử lý sự kiện cho các đối tượng UI mang đến sự hợp tác chặt chẽ cho Designer và Developer.

    Sự khác biệt của XAML so với các ngôn ngữ đánh dấu khác?

    XAML không những kế thừa những điểm mạnh của ngôn ngữ đánh dấu mà nó còn có các tính năng mới nổi bật so với các ngôn ngữ đánh dấu cũ được thể hiện ở:
    1. Khả năng thể hiện giao diện

      Sự thể hiện giao diện của XAML là rất tốt. XAML có thể thể hiện các control cơ bản như Button, Label, Textbox,… trong các khung như Panel, Grid,… Bảng 1.1 cho thấy sự khác nhau giữa HTML và XAML khi thể hiện một Button và một Label.

    <html xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml"> <body> <input type="button" value="Click Me" /> </body> </html>
    <Page xmlns="http://schemas.microsoft.com/winfx/2006/xaml/presentation"> <Button Width="100" Height="50" Content="Click Me" /> </Page>
    Bảng 1.1: XAML và HTML thể hiện các Control cơ bản.

    Không chỉ thể hiện được các Control cơ bản, XAML còn thể hiện được các nét vẽ phức tạp hơn mà bảng 1.2 thể hiện. Nhìn vào bảng 1.2, ta thấy XAML khá giống với các ngôn ngữ thể hiện ảnh vector khác. Điều này rất hữu ích cho việc convert từ các định dạng cũ sang định dạng XAML, việc tái sử dụng sẽ trở nên tốt hơn rất nhiều.

    <rect x="1" y="1" width="398" height="398" fill="none" /> <path d="M 100 100 L 200 100 L 200 300 z" fill="#A3A993" stroke="A8806C" stroke-width="3" />
    <Canvas xmlns="http://schemas.microsoft.com/winfx/2006/xaml/presentation" Width="398" Height="398"> <Path Data="M100, 100L200,100 200, 300z" Fill="#A3A993" Stroke="#A8806C" StrokeThickness="3" /> </Canvas>
    Bảng 1.2: XAML và SVG thể hiện các nét vẽ vector

    Đặc biệt, XAML còn có thể thể hiện được các cảnh 3D nhờ sự hỗ trợ của các góc nhìn khác nhau, phương chiếu sáng, mắt lưới và ma trận chuyển đổi.

    1. Tình toàn diện:

      Khả năng thể hiện giao diện của XAML là rất tuyệt vời, tuy nhiên điểm đáng chú ý nhất của XAML lại không phải nằm ở đó mà nằm ở khả năng hỗ trợ: style, trigger, template, data binding và animation. Chính những khả năng này mới giúp Developer và Designer làm việc song song với nhau một cách hiệu quả nhất trong cùng một ứng dụng.
      1. Style: Kỹ thuật sử dụng style trong phát triển web từ trước tới nay chính là để tách việc thiết kế giao diện của các Web-Designer ra khỏi việc lập trình chức năng của các Web-Developer. Phát triển ứng dụng WPF cũng như vậy, Designer thiết kế style rồi tích hợp vào ứng dụng do Developer phát triển. Quá trình tích hợp rất dễ thực hiện do sự thống nhất của XAML.
      2. Template: Trong WPF, có hai loại template:
        • Control template: Designer thiết kế giao diện trực quan của các control mà không làm thay đổi các behavior do Developer định nghĩa.
        • Data template: Designer sẽ định nghĩa cách thể hiện cho một loại data nào đó. Ví dụ như một số nguyên trong một Textbox sẽ có màu đen, cỡ chữ 12 và canh giữa.
      3. Data binding: Vì trong XAML có hỗ trợ data binding nên Designer có thể thực hiện các thao tác binding cơ bản giữa giao diện và dữ liệu nhận được từ Developer.
      4. Animation: Hệ thống animation của WPF khá đầy đủ và có thể gọi từ các trigger trong XAML. Điều này giúp Designer có thể tạo ra các hiệu ứng cho Control ví dụ như khi người dùng di chuyển chuột lên một Button thì Button đó sẽ phát sáng.

    Vai trò của XAML trong quá trình cộng tác giữa Designer và Developer

    XAML đã đập tan bức tường ngăn cách giữa Designer và Developer. Một ứng dụng có sự kết hợp giữa Designer và Developer đều có bước tích hợp kết quả làm việc của đôi bên. Để thấy được vai trò của XAML ta hãy cùng nhau phân tích quá trình tích hợp này trong ứng dụng WPF và ứng dụng cũ trước đây:

    Ta có thể thấy với ứng dụng theo lối truyền thống cũ thì công việc của cả Developer lẫn Designer đều rất nặng, yêu cầu cả 2 bên phải có hiểu biết về nhiều công cụ. Hai bên làm việc lại không có một sự thống nhất chung, chính vì vậy khi tích hợp sẽ rất khó khăn, mất thời gian và có thể phải làm lại. Còn trong quá trình phát triển ứng dụng WPF, công việc của Designer và Developer đều được giảm nhẹ. Ngoài ra, giữa Developer và Designer còn chia sẻ với nhau đoạn mã XAML chung, chính vì vậy trong suốt quá trình xây dựng phần mềm, cả hai bên luôn có sự thống nhất cần thiết.

    Thứ Ba, 7 tháng 4, 2009

    First entry – Twitter

    Thứ Ba, 7 tháng 4, 2009
    Chuyển qua sử dụng Window Live được vài tuần, sau khi add Window Live team’s network thì hay nhận được update thường xuyên từ Twitter, ban đầu ko để ý lắm nhưng hôm nay tò mò vào thử, phát hiện ra Twitter khá thú vị.
    Twitter là 1 dạng Micro-blogging, dịch vụ này cho phép phát những tin nhắn ngắn tối đa là 140 kí tự (giống SMS hay status của Yahoo Messenger, Window Live Messenger, … chỉ khác là các status này đươc tập hợp và lưu lại trên trang Twitter của bạn).  Chẳng hạn như http://twitter.com/windowslive ở trên là một VD. Hay bạn có thể vào xem và add những người nổi tiếng như Bill Gates (http://twitter.com/billgates) , không thích người nổi tiếng thì add các tổ chức, công ty hay bạn bè của bạn. Sau khi add, mỗi lần họ cập nhật status thì trang Twitter của bạn sẽ hiện lên.
    Như các mạng xã hội khác, để có một account Twitter, vào http://twitter.com/ để sign up, sau khi đăng ký mình có được địa chỉ trang giống như thế này: http://twitter.com/huong_tran

     
    untitled 

    Có một số khái niệm mới trong Twitter mà người sử dụng cần làm quen. Chẳng hạn như Following (người mình quan tâm, được nhận update từ họ), Followers ( ngược lại, người quan tâm mình).
    Một điều đáng lưu ý là Twitter chỉ giới hạn 140 ký tự 1 lần post, nên khi copy paste link vào status, nó sẽ tự động chuyển link qua dạng rút gọn như: http://tinyurl.com/… (click vào sẽ dẫn tới link gốc). Cũng do giới hạn ký tự nên nội dung trên Twitter khá cô đọng, cung cấp thông tin cần thiết,, tiết kiệm được thời gian=> khóai cái này, được cập nhật thông tin nhanh chóng (^ ^).
    Thêm nữa là khi post, nếu muốn reply thông tin lại chính xác cho một người, thì type: “@username:”…..
    Hiện nay Twitter có các rất nhiều plugin và add-in hỗ trợ, VD như:
    http://messenger.yahoo.com/plugins/view/11214/ (update status trên yahoo messenger sẽ automatic copy sang twitter, và ngược lại)
    http://blogs.msdn.com/giorgio/archive/2008/05/11/windows-live-messenger-twitter-addin-with-setup-and-source-code.aspx (add in cho Windows Live Messenger, do 1 nhóm phát triển có member là MSP(^ ^), chỉ có điều add-in này vẫn chưa tương thích với WLM 2009)
    ….
    Tóm lại là Twitter khá thú vị, một dịch vụ web 2.0 được xem như là bước tiến mới của các mạng chat cũ, tuy nó vẫn chưa phổ biến ở VN, nhưng có lẽ trong tương lai sẽ mau chóng phát triển.
    Chỉ có mỗi 1 trục trặc nhỏ là ko hiểu do mình chọn lên giờ thiêng hay sao mà hay nhận đc thông báo này:  over capacity (T T)
    P/s: Trong quá trình add Twitter vào Window Live Web activities, phải để chế độ public, vào setting->account, untick protect my updates. Nếu chọn protect my updates, thì chỉ có followers mới có thể đọc được.


    untitled1